Tin mới
Thứ tư, 17 Tháng 8 2011 08:37

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH

Các nghiên cứu thống kê và lâm sàng trên diện rộng đã xác định một số yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim.

Càng nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng bệnh tim mạch, bệnh mạch vành càng lớn. Ngoài ra, mức độ của mỗi yếu tố nguy cơ càng lớn thì tác động của yếu tố nguy cơ đó càng lớn đối với nguy cơ tổng thể của bạn.

Các yếu tố nguy cơ quan trọng không thể thay đổi được

Lớn tuổi: Khoảng 82% người tử vong vì bệnh mạch vành là từ 65 trở lên. Khi lớn tuổi, bệnh nhân nữ bị nhồi máu cơ tim thường dễ bị tử vong trong vòng vài tuần hơn nam giới.

Giới tính (nam): Nam giới có nguy cơ bị đau tim cao hơn phụ nữ và bị sớm hơn. Ngay cả sau giai đoạn mãn kinh, khi tỉ lệ tử vong phụ nữ do bệnh tim tăng lên thì cũng không bằng nam giới.

Yếu tố di truyền (kể cả chủng tộc): Trẻ có cha mẹ bệnh tim mạch thì dễ bị mắc bệnh này. Người Mỹ gốc Phi bị cao huyết áp nặng hơn người gốc châu Âu và có nguy cơ mắc bệnh tim lớn hơn. Nguy cơ mắc bệnh tim cũng cao hơn trong số các sắc dân người Mỹ gốc Mexico, người Mỹ gốc Da đỏ, người Hawai bản địa và một số sắc dân Mỹ gốc Á. Điều này một phần là do tỷ lệ béo phì và tiểu đường cao hơn. Phần lớn những người có tiền sử gia đình mang nhiều yếu tố về bệnh tim mạch đều có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa. Chỉ vì bạn không thể kiểm soát tuổi tác, giới tính hay sắc tộc, bạn không thể kiểm soát tiền sử sức khỏe gia đình. Do đó, điều thậm chí quan trọng hơn cả là điều trị và kiểm soát bất cứ yếu tố nguy cơ khác nào mà bạn có.

Tại Việt nam: theo GS TS Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim mạch học Quốc gia, ở Việt Nam những năm 1980 thì bệnh tim mạch gây tử vong cao ở hàng thứ tư; còn từ năm 2000 thì bệnh này gây tử vong hàng đầu. Nhóm người mắc bệnh cũng ngày càng trẻ hơn

Theo các năm

Hàng đầu

Thứ hai

Thứ ba

Thứ tư

1980

Nhiễm khuẩn

Sơ sinh

Ung thư

Tim mạch

1990

Nhiễm khuẩn

Tim mạch

Ung thư

Sơ sinh

2000

Tim mạch

Ung thư

Các nguyên nhân khác

Nhiễm khuẩn


Bệnh tăng huyết áp là một ví dụ khá rõ rệt về sự phát triển bệnh tim mạch tại Việt Nam:

-      1992: tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp trên cả nước là 11.7%

-      2007: tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp trên cả nước là 16,32%

Các yếu tố nguy cơ lớn có thể thay đổi, điều trị hay kiểm soát bằng cách thay đổi lối sống hay thuốc

Hút thuốc lá: Người hút thuốc lá có nguy cơ tử vong vì bệnh mạch vành gấp 2-3 lần người không hút thuốc. Hút thuốc lá cũng tác động cùng với các yếu tố nguy cơ khác để làm tăng thêm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Tiếp xúc với khói thuốc lá của người khác làm tăng nguy cơ gây bệnh tim mạch kể cả đối với những người không hút thuốc.

Cholesterol trong máu cao: Khi cholesterol máu tăng, nguy cơ mắc bệnh mạch vành cũng tăng theo. Khi có các yếu tố nguy cơ khác (chẳng hạn như huyết áp cao và hút thuốc lá), nguy cơ này thậm chí còn tăng cao hơn nữa. Mức cholesterol có thể thay đổi dưới tác động của tuổi tác, giới tính, tiền sử sức khỏe gia đình và chế độ ăn uống. Dưới đây là các trị số chúng ta cần giữ thấp hơn:

- Cholesterol toàn phần: dưới 200 mg/dL.

- LDL-C (cholesterol xấu):

  • Nếu bạn có yếu tố nguy cơ tim mạch thấp: dưới 160 mg/dL.
  • Nếu bạn có yếu tố nguy cơ tim mạch trung bình: dưới 130 mg/dL.
  • Nếu bạn có yếu tố nguy cơ tim mạch cao: dưới 100 mg/dL.

- HCL-C (cholesterol tốt): hơn 40 mg/dL ở nam và hơn 50 mg/dL ở nữ.

- Triglycerides: dưới 150 mg/dL.

Tăng huyết áp: Huyết áp cao làm tăng tải lên tim, làm vách tim dày lên và trở nên cứng hơn. Nó cũng làm tăng nguy cơ bạn bị đột quỵ, đau tim, suy thận và suy tim sung huyết. Khi huyết áp cao xảy ra ở người béo phì, hút thuốc lá, có mức cholesterol trong máu cao hay là tiểu đường thì nguy cơ đau tim hay đột quỵ tăng lên nhiều lần.

Hoạt động thể chất: Lối sống ít vận động là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Hoạt động thể chất thường xuyên với cường độ vận động từ vừa đến nặng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch. Cường độ vận động càng nặng bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Tuy nhiên, ngay cả vận động với cường độ trung bình cũng có ích nếu hoạt động thường xuyên và kéo dài. Hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp kiểm soát cholesterol máu, tiểu đường và béo phì, cũng như giúp làm hạ huyết áp trong nhiều trường hợp.

Béo phì và dư cân: Người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức - đặc biệt nếu tích mỡ quá nhiều vùng bụng - dễ bị bệnh tim và đột quỵ ngay cả khi không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác. Cân nặng quá mức làm tăng hoạt động tim. Nó cũng làm tăng huyết áp, tăng cholesterol và chất béo trung tính và giảm cholesterol HDL (có lợi). Nó cũng có thể làm cho bệnh tiểu đường dễ phát ra hơn. Nhiều người béo phì và dư cân gặp khó khăn khi giảm cân. Nhưng nếu giảm được khoảng 5kg thì bạn có thể hạ thấp được nguy cơ bệnh tim mạch.

Tiểu đường (đái tháo đường): Tiểu đường làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Ngay cả khi nồng độ glucose được kiểm soát, tiểu đường cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ, nhưng các nguy cơ này thậm chí còn cao hơn nữa nếu đường huyết không được kiểm soát tốt. Khoảng 3/4 bệnh nhân tiểu đường tử vong vì nhiều dạng bệnh tim mạch. Nếu bạn bị tiểu đường, hãy hợp tác với cơ sở y tế để điều trị bệnh và kiểm soát bất cứ các yếu tố nào khác mà bạn có thể có là điều cực kỳ quan trọng.

Các tác nhân góp phần là gì?

Căng thẳng: Phản ứng của cá nhân đối với căng thẳng có thể là một tác nhân góp phần. Nhiều nhà khoa học đã lưu tâm đến mối liên hệ giữa nguy cơ bệnh tim mạch và căng thẳng trong cuộc sống, hành vi về sức khỏe và trạng thái kinh tế xã hội của con người. Căng thẳng có thể có tác động tạo nên các yếu tố nguy cơ. Ví dụ, người bị căng thẳng có thể ăn quá nhiều, bắt đầu hút thuốc và hút nhiều hơn bình thường.

Rượu: Uống rượu quá nhiều có thể làm tăng huyết áp gây ra suy tim và dẫn đến đột quỵ. Nó có thể góp phần làm tăng chất béo trung tính trong máu, ung thư và các bệnh khác và tạo ra rối loạn nhịp tim. Nó góp phần gây ra chứng béo phì, nghiện rượu, tự tử và các tai nạn. Nguy cơ bệnh tim ở người uống một lượng rượu vừa phải (trung bình 1 ly đối với phụ nữ và 2 ly đối với nam giới mỗi ngày) thấp hơn người không uống. Không khuyến cáo những người không uống rượu bắt đầu sử dụng rượu bia hay những người uống rượu tăng lượng rượu bia họ uống để phòng tránh bệnh tim mạch.

Để phòng chống bệnh tim mạch, các chuyên gia thuộc Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam đã đưa ra những lời khuyên về chế độ ăn uống. Theo đó, ăn uống hợp lý là một biện pháp không thể thiếu để phòng chống bệnh tim mạch. Thay đổi thói quen ăn uống, sinh hoạt hiện nay chính là một yếu tố làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch cho người Việt Nam. Chẳng hạn, lượng thịt trung bình mỗi ngày người Việt Nam ăn cao gấp 3 lượng cá; phải thay đổi ngược lại thói quen này: Tăng gấp 3 lượng cá so với thịt trong khẩu phần thực phẩm. Ngoài ra, dù Việt Nam là một nước nhiệt đới có nhiều loại rau quả nhưng loại thực phẩm này chỉ chiếm một phần khiêm tốn trong bữa ăn của người thành thị. Rau cần phải chiếm đến 50% khẩu phần hàng ngày.


Quý vị có những thắc mắc về bệnh tim mạch, cần được tư vấn thông tin, đừng ngần ngại liên hệ ngay:

KHOA NỘI TIM MẠCH

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA VIỆT GIA

166 Nguyễn Văn Thủ, Phường Đa Kao, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 08 3911 8485

Các liên kết hữu ích

tiếng việt